
Đối với tín hữu Việt Nam, thánh Vincente Ferriô (tiếng Tây Ban Nha: Vicente Ferrer) đã thường được khấn như vị thánh hay làm phép lạ. Cuộc đời của vị tông đồ Âu Châu, vinh quang của Giáo hội, vinh dự của dòng giảng thuyết này cũng rất lạ lùng
Tiểu sử của Thánh Vinh Sơn

Thánh Vinh Sơn (hay còn gọi là Vincentê Phêrê, O.P, Vincentê, Vincent Ferrer) chào đời tại Valencia, Tây Ban Nha vào ngày 23/1/1350, là con của William và Constance Ferrer, một cặp vợ chồng rất đạo đức sống tại Valencia, Tây Ban Nha. Vinh Sơn là con thứ tư trong tám người con
Tuổi thơ của Thánh Vinh Sơn
Lên sáu tuổi, Vincente cắp sách đến trường và đã tỏ ra có nhiều ân huệ đặc biệt. Còn là một con trẻ ngây thơ nhưng Ngài đã có sức hấp dẫn lạ lùng.
Bạn trẻ thường vây kín quanh Ngài để tham dự một trò chơi diễn lại bài giảng ở nhà thờ. Vincente luôn diễn giảng chính xác và hùng hồn một cách đáng ngạc nhiên.
Mười hai tuổi thánh nhân theo môn triết học, mười bốn tuổi Ngài học thần học.
Người ta kể rằng vào lúc này, đã một lần thánh nhân làm cho một đứa trẻ đã chết sống lại. Câu chuyện xảy ra khi những đứa bạn xấu bày trò chết giả và xin Vincente thương giúp. Nhưng đứa giả chết lại chết thật làm chúng phải kinh hoàng. Đáp lời van xin khẩn thiết của chúng, thánh nhân đã cầu nguyện rồi cầm tay đứa chết cho nó sống lại.
Lên mười bảy tuổi, Vincente đã được các giáo sư coi như ngang hàng với mình. Đây là lúc Ngài phải quyết định hoặc làm giáo sư tại Roma và lập gia đình, hoặc là theo đuổi lý tưởng tu dòng. Thánh nhân đã quyết định gia nhập dòng thánh Đaminh.
Đầy xúc cảm và hãnh diện, ngày 05 tháng 02 năm 1367, ông thân sinh đã dẫn Ngài tới cha bề trên dòng Đaminh ở Valentina.
Nhưng chưa được một năm, thân mẫu Ngài lại luyến tiếc tương lai rực sáng của con, và đã cố gắng đưa con trở về lại gia đình.
Thoạt đầu Vincente cũng bị cám dỗ vật chất, nhưng sau đó Ngài đã thốt lên câu nói làm đà tiến cho suốt cuộc đời: Lạy Chúa, con chọn Chúa mãi mãi.
Sứ Vụ Tông Đồ
Sau khi học xuấc sắc triết học và đỗ tiến sĩ thần học tại Lérida, ngài được thụ phong linh mục năm 1378 bởi Đức Hồng Y Pedro Martínez de Luna.
Với bản tính hăng say, ngài tận tụy thi hành nhân đức khắc khổ theo quy luật dòng. Sau khi được thụ phong linh mục không lâu, ngài được chọn làm bề trên tu viện Đa Minh ở Valencia.
Vào năm 1399, sau vài năm thuyết giảng và giảng dạy tại Valencia, Thánh Vinh Sơn chu du khắp Pháp, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Ý, Ái Nhĩ Lan để thuyết giáo. Vinh Sơn Ferrer được gọi là Thiên Sứ thời phán xét vì Ngài có những bài giảng tuyệt vời về ngày tận thế. Ngài đã giúp rất nhiều người Công Giáo trở lại Giáo Hội Công Giáo Roma, kể cả người Maures, người Do Thái và những người lạc giáo. Thánh Vinh Sơn tham gia vào Cộng Đồng Constance, góp công sức vào việc giải quyết cuộc đại ly giáo ở Phương Tây.
Cuộc Đại Ly Giáo Tây Phương đã chia cắt Kitô Giáo, lúc đầu với hai giáo hoàng, sau đó là ba giáo hoàng. Đức Clêmentê ở Avignon nước Pháp, Đức Urbanô ở Rôma. Cha Vinh Sơn tin rằng việc bầu cử Đức Urbanô là vô giá trị (mặc dù Thánh Catarina ở Siena là người hỗ trợ đức giáo hoàng Rôma).
Trong thời gian phục vụ Đức Hồng Y de Luna, Cha Vinh Sơn thuyết phục người Tây Ban Nha theo Đức Clementê. Và khi Đức Clêmentê từ trần, Đức Hồng Y de Luna được bầu làm giáo hoàng ở Avignon và lấy tên là Bênêđictô XIII.
Cha Vinh Sơn được Đức Bênêđictô triệu về làm việc trong Tòa Ân Giải Tối Cao và là Trưởng Điện Tông Tòa. Nhưng vị giáo hoàng ở Avignon không chịu từ chức trong khi tất cả các ứng viên trong mật nghị hồng y đều thề như vậy. Và Đức Bênêđictô vẫn ngoan cố bất kể sự ruồng bỏ của vua nước Pháp và hầu hết các hồng y.
Cha Vinh Sơn vỡ mộng và lâm bệnh nặng, nhưng sau cùng ngài đã đảm nhận công việc “rao giảng Đức Kitô cho thế giới,” dù rằng bất cứ sự canh tân nào trong Giáo Hội thời ấy đều tùy thuộc việc hàn gắn sự ly giáo.
Là một người có tài rao giảng và hăng say, ngài dành 20 năm sau cùng của cuộc đời để loan truyền Tin Mừng ở Tây Ban Nha, Pháp, Thụy Điển, Hòa Lan và vùng Lombardy, nhấn mạnh đến nhu cầu sám hối và khuyên nhủ mọi người hãy lo sợ ngày phán xét. (Ngài có tên là “Thiên Thần của Sự Phán Xét”).
Vào những năm 1408 và 1415, ngài cố gắng nhưng không thành công trong việc thuyết phục người bạn cũ của ngài từ chức. Sau cùng, Cha Vinh Sơn phải kết luận rằng Đức Bênêđictô không phải là giáo hoàng thật.
Mặc dù đang bệnh nặng, Cha Vinh Sơn đã lên tòa giảng trước một giáo đoàn mà chính Đức Bênêđictô chủ sự và mạnh mẽ tố giác người đã tấn phong chức linh mục cho ngài. Từ đó trở đi, Đức Bênêđictô bỏ trốn, để lại sau lưng những người trước đây đã hỗ trợ mình.
Cha Vinh Sơn sống cho đến ngày được chứng kiến sự chấm dứt ly giáo, với việc bầu cử tân giáo hoàng là Đức Martin V.
Vào tuổi bảy mươi, Vincent Ferrier qua đời ngày 05/04/1419, tại Vannes miền Bretagne khi đang thi hành nhiệm vụ sau chuyến đi giảng Mùa Chay. Ngài được tuyên hiển thánh vào năm 1455 do Đức Calixte II và nhận tước hiệu vị Tông Đồ của Châu Âu.
Những Phép Lạ của Thánh Vincent Ferrer
Trích từ "Thánh Vinh Sơn Ferrer, thuộc Dòng Anh Em Thuyết Giáo" của Linh mục Pradel (1875), "Thánh Vinh Sơn Ferrer" của Linh mục Hogan (1911) và "Thiên Thần Phán Xét" của S.M.C. (1954).
Vị Tông Đồ Bị Lãng Quên
Có một vị Thánh là một trong những vị thánh vĩ đại nhất trong lịch sử Giáo hội, nhưng sự hiện diện của ngài hầu như đã bị lãng quên. Ngay cả khi được nhắc đến, những mô tả về ngài thường bị giảm nhẹ, mơ hồ đến mức đáng tiếc và là một sự xúc phạm đến vinh quang thực sự của ngài.
Vị Thánh bị lãng quên này đã thực hiện nhiều phép lạ trong một ngày hơn tất cả các phép lạ mà các vị thánh khác thực hiện trong suốt cuộc đời của họ. Thêm vào đó, bản chất các phép lạ của ngài thường mang tính chất phi thường.
Nhiều vị thánh được ca ngợi vì đã chữa lành một người què hoặc một người mù, nhưng những phép lạ như vậy đối với vị Thánh của chúng ta lại phổ biến đến mức hầu hết chúng còn không được ghi chép lại. Vị thánh đang được nói đến ở đây chính là Thánh Vinh Sơn Ferrer (St. Vincent Ferrer).
Những Phép Lạ Thực Hiện Trước Khi Ngài Chào Đời
Thánh Vinh Sơn Ferrer sinh ngày 23 tháng 1 năm 1350, là con của William và Constance Ferrer, một cặp vợ chồng rất đạo đức sống tại Valencia, Tây Ban Nha. Vinh Sơn là con thứ tư trong tám người con. Phép lạ bắt đầu với đứa trẻ này ngay cả trước khi sinh ra.
Đầu tiên, người mẹ không cảm thấy bất kỳ cơn đau thông thường nào vốn luôn đi kèm với các lần mang thai của bà. Trong thời gian mang thai, Constance đã đi bố thí hàng tháng cho một người phụ nữ mù. Sau khi nhờ người phụ nữ mù cầu nguyện cho việc sinh nở an toàn, người phụ nữ mù cúi đầu tựa vào ngực người mẹ và nói: "Xin Chúa ban cho bà đặc ân đó!".
Ngay lập tức, người phụ nữ mù đã nhìn thấy lại được. Em bé Vinh Sơn trong bụng mẹ bắt đầu nhảy mừng, giống như Gioan Tẩy Giả đã làm. Trong thời gian ngay trước khi sinh, Constance nghe thấy đứa trẻ phát ra những tiếng kêu như tiếng một chú chó nhỏ sủa – tương tự như những gì mẹ của Thánh Đa Minh đã gặp phải.
Trong những tuần trước khi sinh, cha của ngài đã có một giấc mơ, trong đó ông bước vào nhà thờ của các tu sĩ Dòng Đa Minh tại Valencia. Vị giảng giả tại tòa giảng quay sang ông và nói: "Tôi xin chúc mừng ông, William; trong vài ngày tới ông sẽ có một người con trai, người sẽ trở thành một thần đồng về học vấn và thánh thiện;... thế giới sẽ vang dội danh tiếng về những công việc kỳ diệu của người con đó;... người con đó sẽ mặc bộ áo dòng mà tôi đang mặc, và sẽ được Giáo hội đón nhận với niềm vui phổ quát, như một trong những Tông đồ đầu tiên của Giáo hội".
Những Phép Lạ Thực Hiện Trong Thời Thơ Ấu
Không cần phải nói, đây là một em bé rất nổi tiếng trước cả khi chào đời. Buổi lễ rửa tội của ngài là một sự kiện của thành phố, thu hút nhiều nhân vật quan trọng của Valencia. Sau nhiều cuộc tranh luận giữa những người có mặt về cái tên sẽ đặt cho đứa trẻ, chính vị linh mục, nhờ sự soi sáng thiêng liêng, đã đặt tên cho ngài là Vinh Sơn theo tên thánh bảo trợ của thành phố, Vinh Sơn Tử Đạo.
Cậu bé Vinh Sơn rất ngoan ngoãn. Cậu hiếm khi khóc và luôn bình thản. Khi Vinh Sơn vẫn còn trong nôi và mới bắt đầu bập bẹ, Valencia bị hạn hán nặng. Mặc dù các buổi cầu nguyện công khai đã được thực hiện để xin sự cứu giúp, nhưng không một đám mây nào xuất hiện trên bầu trời.
Rồi một ngày nọ, khi mẹ cậu đang nói về việc này, bà nghe rõ con trai mình nói: "Nếu mẹ muốn có mưa, hãy rước con đi diễu hành, và mẹ sẽ được nhận lời". Nghe thấy những lời kỳ diệu này, người mẹ vội vã báo cho chính quyền thành phố, người ngay lập tức ra lệnh tổ chức một cuộc rước. Cậu bé Vinh Sơn được rước đi trong khải hoàn; ngay sau khi cuộc rước hoàn thành, bầu trời bỗng dưng tối sầm lại và mưa trút xuống xối xả trong vài giờ.
Khi Vinh Sơn lên sáu tuổi, cậu được đưa đến gặp một đứa trẻ cùng tuổi đang bị một mụn mủ nguy hiểm ở cổ. Cậu được yêu cầu chạm vào phần bị ảnh hưởng, nhưng thay vào đó, Vinh Sơn đã hôn nó. Khoảnh khắc đôi môi cậu chạm vào da thịt, nó được chữa khỏi ngay lập tức; vết thương biến mất hoàn toàn.
Khi Vinh Sơn lên chín tuổi, cậu đến nhà một người bạn cùng lớp để gọi bạn đi học. Nghe thấy tiếng người mẹ khóc lóc, cậu vội vã leo lên cầu thang nhà và thấy người mẹ đang thổn thức: "Con trai tôi chết rồi!". Vinh Sơn mỉm cười và nói với người mẹ: "Đi thôi mẹ ơi, bạn của con không chết đâu, bạn ấy đang ngủ thôi; chúng ta hãy vào xem bạn ấy".
Vinh Sơn tiến lại gần giường, nắm lấy bàn tay xác chết lạnh ngắt và cứng đơ, hô to: "Dậy đi, đến giờ đi học rồi!". Cậu bé chín tuổi mở mắt ra như thể vừa tỉnh dậy sau một giấc ngủ sâu. Rồi cả hai cùng đi học như thể chưa có chuyện gì xảy ra.
Phép Lạ Về Tàu Chở Ngũ Cốc
Vào mùa xuân năm 1375, thành phố Barcelona đang ở giữa một nạn đói khủng khiếp. Người dân đã cầu nguyện và rước kiệu công khai để xin Chúa can thiệp. Cuối một buổi rước kiệu tại một quảng trường công cộng, Thầy Vinh Sơn đã kêu gọi mọi người sám hối vì nạn đói là sự trừng phạt của Chúa cho sự lãng quên Luật Chúa của họ.
Sau đó, ngài đột nhiên thốt lên rằng đêm nay hai con tàu đầy ắp ngũ cốc sẽ cập cảng. Nhưng đám đông đã gạt bỏ lời ngài nói vì biển đang động dữ dội, điều này sẽ ngăn cản bất kỳ con tàu nào cập cảng. Các anh em cùng dòng sau đó đã khiển trách Vinh Sơn vì đã đưa ra những tuyên bố như vậy, và ngài bị Bề trên ra lệnh không được làm bất cứ điều gì thu hút sự chú ý vào bản thân.
Vinh Sơn chấp nhận sự khiển trách này và dành phần còn lại của ngày để cầu nguyện. Đến tối hôm đó, hai con tàu chở đầy ngũ cốc đã cập bến và trong vài ngày sau đó, hai mươi con tàu khác cũng đã đến.
Phép Lạ Người Công Nhân Đang Rơi
Một ngày nọ, một số thợ xây đang làm việc trên cao của một bức tường trên mái nhà tù đã phát hiện Thầy Vinh Sơn đang đi bộ dưới phố. Ngay khi ngài đi ngang qua, một trong những thợ xây bị trượt chân và bắt đầu rơi xuống, vừa rơi vừa kêu to: "Thầy Vinh Sơn! Thầy Vinh Sơn!".
Nhìn lên, Thầy Vinh Sơn hét lớn: "Hãy ở yên đó cho đến khi tôi quay lại". Ngay lập tức, người đàn ông ngừng rơi và treo lơ lửng giữa không trung phía trên đường phố. Chạy ngược về gặp Bề trên của mình, Vinh Sơn nói: "Một người đàn ông đang rơi từ trên mái nhà xuống đã xin con giúp anh ta, nên anh ta đang đợi cho đến khi con có sự cho phép của Cha".
"Đang đợi sao?" "Vâng, anh ấy đang đợi". Vị Bề trên trả lời: "Được rồi, quay lại và kết thúc việc đó đi, chắc chắn đang có đám đông ở đó". Thầy Vinh Sơn quay lại, và lúc này đã có một đám đông lớn những người ngạc nhiên đang há hốc mồm nhìn người đàn ông treo lơ lửng giữa không trung suốt bấy lâu nay. "Bề trên nói anh có thể xuống rồi", Vinh Sơn nói. Người đàn ông từ từ hạ xuống đất một cách nhẹ nhàng. Phép lạ này là lý do tại sao ngài là thánh bảo trợ của những người thợ xây và công nhân xây dựng.
Phép Lạ Về Bài Giảng
Có nhiều hồng ân kỳ diệu gắn liền với việc giảng thuyết của Thánh Vinh Sơn. Ngài luôn giảng bằng tiếng Tây Ban Nha phương ngữ Valencia nhưng mọi người đều hiểu rõ ngài bất kể họ nói ngôn ngữ nào. Cho dù họ nói tiếng Pháp, Ý, Anh, Hy Lạp hay Đức, họ không chỉ nghe thấy tiếng mẹ đẻ của mình mà còn cả những thành ngữ bản địa.
Ngài có thể nói chuyện với đám đông khổng lồ ở các quảng trường lớn mà không cần thiết bị khuếch đại hiện đại, nhưng tất cả mọi người đều nghe rõ, ngay cả khi khoảng cách xa tới hàng dặm. Giọng nói của ngài mang theo Chúa Thánh Thần đến mức mọi người cảm thấy hối cải và hoán cải khi nghe lời ngài.
Các nhà thờ không thể chứa hết đám đông khổng lồ nên ngài thường giảng ở các quảng trường công cộng. Các bài giảng của ngài thường dài ba hoặc thậm chí sáu tiếng đồng hồ, nhưng đám đông không bao giờ mệt mỏi. Tại Nantes, Brittany, người dân tuyên bố rằng họ chưa bao giờ chứng kiến nhiều sự hoán cải và phép lạ đến thế.

































